Một số quy định mới liên quan đến điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện với với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động

|
Views:
dark-mode-label OFF
Đọc bài viết

Trong thị trường lao động ở nước ta hiện nay, việc người lao động không có hợp đồng lao động hoặc lao động tự do ngày càng tăng. Nhiều lao động, kể cả lao động bậc cao đang lựa chọn chuyển sang làm việc tự do hoặc trở thành lao động tự do như một giải pháp thay thế hấp dẫn. Thực tế cho thấy, người lao động không có hợp đồng lao động (hay còn gọi là làm việc không có quan hệ lao động) thường phải đối mặt với nhiều tình huống dễ bị tổn thương. Theo số liệu thống kê, bình quân mỗi năm toàn quốc có trên 2.100 người chết do tai nạn lao động, trong đó trên 1.400 người (chiến hơn 2/3 tổng số) là người lao động thuộc khu vực không có quan hệ lao động, làm việc không có hợp đồng lao động.

Nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luât về An toàn, vệ sinh lao động. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động (Nghị định 143/2024/NĐ-CP ngày 01/11/2024).

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại phiên họp CP

 

Theo quy định tại Nghị định 143/2024/NĐ-CP, khi tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện người lao động có những quyền sau: Được tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Nghị định này; Được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội; Nhận chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện đầy đủ, kịp thời, theo một trong các hình thức chi trả trực tiếp từ cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền hoặc thông qua tài khoản thanh toán của người lao động mở tại ngân hàng; Ủy quyền cho người khác nhận trợ cấp bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện; Được cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội; Được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện theo quy định tại Nghị định này và được thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

Về điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện, tại Điều 5 Nghị định 143/2024/NĐ-CP  có quy định như sau: Người lao động đang tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện quy định tại Điều 4 Nghị định 143/2024/NĐ-CP  khi có đủ các điều kiện sau đây: (i) Bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn lao động xảy ra trong thời gian tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện;(ii) Không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 143/2024/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định trường hợp người lao động không được hưởng các chế độ tai nạn lao động tại Điều 4 của Nghị định 143/2024/NĐ-CP  nếu tai nạn xảy ra do một trong các nguyên nhân sau: (i) Mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến công việc, nhiệm vụ lao động; (ii) Người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; (iii) Sử dụng chất ma túy, chất gây nghiện trái quy định của pháp luật.

Về thời hạn giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện. Nghị định có quy định người lao động hoặc thân nhân người lao động bị nạn nộp hồ sơ theo quy định tại Điều 22 Nghị định 143/2024/NĐ-CP  cho cơ quan bảo hiểm xã hội đã đăng ký tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện trong thời hạn như sau: (i) 30 ngày, kể từ ngày nhận được Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa. (ii) 90 ngày kể từ ngày người lao động đang đóng bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện bị chết. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản cho người nộp hồ sơ và nêu rõ lý do.

Nghị định 143/2024/NĐ-CP cũng quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và xã hội chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện; phối hợp với các cơ quan chức năng trong quá trình điều tra các vụ tai nạn lao động, tổ chức thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại tố cáo, kịp thời kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện theo quy định của pháp luật; Chỉ đạo các cơ quan liên quan lập dự toán kinh phí hỗ trợ từ ngân sách của địa phương cho các đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện, căn cứ vào số thực hiện trong năm trước liền kề hoặc tương đương với mức hỗ trợ bảo hiểm tự nguyện về hưu trí, tử tuất, đảm bảo tuân thủ theo quy định mọi khoản thu, chi ngân sách phải có dự toán;

Nghị định quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp bảo đảm ngân sách để hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện cho người lao động tham gia theo quy định tại 143/2024/NĐ-CP. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.

Tiến Hòa

User Online: 1,138
Total visited in day: 22,110
Total visited in Week: 73,346
Total visited in month: 190,078
Total visited in year: 526,466
Total visited: 3,813,441