Kiến nghị khắc phục tình trạng thiếu giáo viên

|
Views:
dark-mode-label OFF
Đọc bài viết
Tại kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh Bắc Giang, ông Tạ Việt Hùng, Tổ đại biểu huyện Hiệp Hòa thảo luận sâu về những khó khăn trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), đề xuất giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

Đại biểu Tạ Việt Hùng phát biểu thảo luận hội trường

 

- Kính thưa Chủ tọa kỳ họp;

- Kính thưa các vị đại biểu

Được sự cho phép của chủ tọa kỳ họp, tôi xin thảo luận nội dung: Những khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hiện nay (về cơ sở vật chất, xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2, tình trạng giáo viên, nhân viên hành chính nghỉ việc...); nguyên nhân và giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

Kính thưa các vị đại biểu!

Trong những năm qua, Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh, cấp ủy, chính quyền các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển sự nghiệp GDĐT. Nhiều cơ chế, chính sách được tỉnh ban hành nhằm đầu tư, huy động các nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất trường học, mua sắm trang thiết bị dạy học, xây dựng trường chuẩn quốc gia. Đến nay, tỷ lệ phòng học kiên cố toàn tỉnh đạt 93,1%; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia mức độ 1 đạt 94,5%, mức độ 2 đạt 20,2%. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp học rất được quan tâm, xây dựng cả về số lượng và chất lượng, cân đối về cơ cấu bộ môn. Toàn tỉnh hiện có trên 28 nghìn cán bộ, giáo viên, nhân viên trong biên, trong đó có 04 tiến sĩ, 887 thạc sĩ. Chất lượng  giáo dục tiếp tục được duy trì và từng bước nâng lên theo hướng bền vững, năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học, tốt nghiệp THCS đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 99,42%, điểm bình quân các môn xếp thứ 11/63 tỉnh, thành phố, tăng 11 bậc so với năm học trước. Năm 2022, toàn ngành đạt 274 giải quốc gia, trong đó 66 giải học sinh giỏi văn hóa cấp quốc gia, xếp thứ 8/63 tỉnh, thành phố, là năm có số giải cao nhất từ khi tái lập tỉnh đến nay; có 02 giải Khoa học kỹ thuật, xếp thứ 4 toàn quốc; 01 giải Ba cuộc thi học sinh khởi nghiệp, xếp thứ 4 toàn quốc.

Tuy nhiên, trước quy định của pháp luật, yêu cầu về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và yêu cầu phát triển KTXH, sự nghiệp GDĐT đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc, cụ thể là:

I. NHỮNG KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC

1. Về cơ sở vật chất (CSVC) và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia

Số phòng học tạm, phòng học cấp 4 vẫn còn nhiều (tổng 737 phòng, trong đó MN 353 phòng; TH 326 phòng; THCS 58 phòng) và tập trung nhiều ở các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Hiệp Hoà. Phòng học bộ môn được đầu tư xây dựng, nhất là những trường xây dựng chuẩn quốc gia để đảm bảo tiêu chí theo quy định, tuy nhiên so với yêu cầu quy định tại Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT thì còn thiếu rất nhiều (tổng thiếu 1.055 phòng, trong đó Tiểu học 330 phòng; THCS 335 phòng; THPT 390 phòng). Thiết bị đồ dùng dạy học so với nhu cầu quy định tại Thông tư của Bộ GDĐT thì vẫn chưa đáp ứng và còn thiếu nhiều:

- Cấp Tiểu học hiện có 20.316 bộ; tỷ lệ đáp ứng 90%; cần bổ sung 2.197 bộ.

- Cấp THCS có 29.896 bộ; tỷ lệ đáp ứng 92%; cần bổ sung 2.901 bộ. 

- Cấp THPT có 7.546 bộ; tỷ lệ đáp ứng 83%; cần bổ sung 650 bộ.

Mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025, phấn đấu đến năm 2025 có 97,3% trường đạt CQG (tăng 18 trường) và mức độ 2 tăng 6,3% (tăng 48 trường). Mục tiêu này rất khó khăn, nhất là trường CQG mức độ 2 vìnhững trường hiện tại chưa đạt chủ yếu là thiếu diện tích, chờ xây dựng ra khu đất quy hoạch mới hoặc mới thành lập chưa đủ 5 năm; thiếu phòng học bộ môn và các điều kiện về sỹ số học sinh/lớp, các yêu cầu về chất lượng giáo dục cũng rất cao. Các trường mới thành lập thì phải sau 5 năm mới được đánh giá, kiểm tra công nhận CQG.

2. Về tình trạng thiếu GV: Cấp tiểu học thiếu nhiều GV, việc tuyển dụng gặp khó khăn do thiếu nguồn tuyển có trình độ đại học trở lên. Giáo dục Mầm non chưa có GV để thực hiện nhiệm vụ huy động trẻ nhà trẻ ra lớp. Theo lộ trình dự kiến năm học 2022-2023, để huy động trẻ nhà trẻ ra lớp đạt tỷ lệ 24,2%, ngoài huy động xã hội hóa, cần cần phải bố trí thêm 666 GV MN. Quy mô học sinh liên tục tăng trong khi tổng biên chế giáo viên không được giao tăng hoặc GV MN, TH được trung ương giao tăng nhưng không đủ bù cho chỉ tiêu 10% tinh giản biên chế .

3. Về tình trạng GV, nhân viên nghỉ việc, chuyển việc: Trong thời gian từ năm học 2020-2021 đến nay, tình trạng GV, nhân viên hành chính nghỉ việc là 184 người và có chiều hướng gia tăng ở bậc MN, TH, THCS, năm sau gấp đôi năm trước: Năm học 2020 -2021: 71 người  (MN 23, TH 16, THCS 8, THPT 24);

Năm học 2021 -2022: 113 người  (MN 49, TH 38, THCS 21, THPT 5)

Tình trạng GV, nhân viên hành chính nghỉ việc cộng với tuyển dụng GV  khó khăn sẽ dẫn đến nguy cơ thiếu GV, không đủ GV đáp ứng yêu cầu dạy và học.

II. NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

1. Nguyên nhân

Luật Giáo dục, các Thông tư quy định công nhận trường chuẩn quốc gia có nhiều thay đổi, tiêu chí đạt chuẩn yêu cầu cao hơn so với quy định cũ, nhiều phòng học, phòng chức năng xây dựng trước đây đã xuống cấp hoặc không đáp ứng yêu cầu về diện tích theo tiêu chuẩn mới. Số học sinh một số địa phương tăng nhanh dẫn đến thiếu phòng học, việc xây dựng thêm phòng học, phòng chức năng, mở rộng đất không kịp thời. Nhiều trường mầm non tư thục mới thành lập nên phải sau 5 năm mới đủ điều kiện công nhận CQG.

Điều kiện kinh tế - xã hội một số địa phương còn nhiều khó khăn dẫn đến việc huy động kinh phí xây dựng CSVC trường học còn hạn chế như Lục Ngạn, Hiệp Hoà, Yên Thế, Lục Nam. Việc huy động các nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều chương trình, kế hoạch đề ra, song không đủ nguồn lực để tổ chức thực hiện. Phần lớn các trang thiết bị được đầu tư mua sắm từ những năm 2006, hàng năm có mua sắm bổ sung, tuy nhiên chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới Chương trình GDPT.Việc sáp nhập các trường làm tăng số lớp, số học sinh/lớp, không đảm bảo tiêu chuẩn của trường CQG, nhất là CQG mức độ 2.

Việc GV và nhân viên hành chính xin nghỉ việc trong thời gian vừa qua, nhất là những khu vực có nhiều khu, cụm CN đến từ nhiều nguyên nhân như: Hiện nay, mức lương của ngành giáo dục là rất thấp so với yêu cầu và áp lực công việc, mặc dù đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, thực hiện các chế độ đãi ngộ như phụ cấp nghề nghiệp, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thâm niên… nhưng thu nhập của nhà giáo nói chung và đặc biệt với GV mới vào nghề, GV hợp đồng còn rất thấp so với lĩnh vực doanh nghiệp. Đội ngũ nhân viên hành chính trường học ngoài lương còn không có các chế độ phụ cấp ưu đãi khác. Một số GV, nhân viên được tuyển dụng và phân công đến công tác ở các địa phương khác, xa gia đình trong khi điều kiện sinh hoạt, công tác ở đó còn thiếu thốn, đường sá xa xôi, thiếu nhà ở công vụ, gặp khó khăn trong việc chăm sóc gia đình. Việc triển khai đổi mới chương trình GDPT khiến công việc của GV ngày càng tăng, một số thầy cô lớn tuổi, sức khỏe không tốt nên cũng muốn nghỉ sớm hoặc chuyển sang công việc khác nhẹ nhàng hơn.

2. Nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới

Sở GDĐT tiếp tục tham mưu Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển GDĐT; chỉ đạo các địa phương tăng cường, ưu tiên đầu tư, huy động nguồn xã hội hóa để xây dựng CSVC trường học, xây dựng trường chuẩn quốc gia, lồng ghép việc xây dựng CSVC trường học  vào các chương trình mục tiêu quốc gia. Các huyện, thành phố rà soát lại Kế hoạch đầu tư công, cập nhật bổ sung các hạng mục xây dựng phòng học đảm bảo tiêu chí trường CQG.  UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thực hiện tiêu chí về xây dựng CSVC; hiệu trưởng các nhà trường chịu trách nhiệm thực hiện các tiêu chí về chất lượng và tổ chức, hoạt động trong trường học.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho GV, NV. Trong quá trình bố trí, điều động GV, NV: Sở GD&ĐT, Chủ tịch UBND các huyện, TP tính toán bố trí vị trí làm việc một cách hợp lý: gần nhà, nơi có nhà công vụ... để tạo điều kiện thuận lợi cho GV, NV ổn định cuộc sống,  hạn chế GV, NV nghỉ việc.

Đề nghị UBND tỉnh, Sở Nội vụ giao tăng chỉ tiêu tuyển hoặc hợp đồng  GV hằng năm, nhất là giáo viên MN để thực hiện mục tiêu tăng tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ và bù lấp số GV nghỉ việc; tiếp tục cho phép các huyện, thành phố hợp đồng GV theo Nghị quyết số 102/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 19/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh; Tiếp tục tuyển GV đợt 2 vào đầu năm 2023 với những cấp học chưa tuyển đủ hoặc thiếu nguồn tuyển trong đó có mầm non, tiểu học. Chỉ đạo UBND huyện, thành phố sắp xếp, bố trí GV hợp lý, không để tình trạng thiếu, mất cân đối cơ cấu GV khi triển khai thực hiện chương trình GDPT 2018.

Tích cực tham mưu với trung ương, với tỉnh quan tâm tới chính sách tiền lương và các chế độ ưu đãi khác của viên chức ngành GDĐT để tiền lương và thu nhập của viên chức giáo dục thu hẹp khoảng cách với khối doanh nghiệp, đáp ứng  nhu cầu cuộc sống; tiếp tục đề xuất với trung ương không thực hiện tinh giản biên chế 10% đối với sự nghiệp giáo dục để đáp ứng việc tăng  quy mô  học sinh.