Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế
Tiếp tục ngày làm việc thứ 29, Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, chiều 26/11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương, Quốc hội tiến hành phiên thảo luận toàn thể ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế.

Toàn cảnh phiên thảo luận
Tham gia góp ý đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế, đại biểu Trần Thị Vân, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh nêu: Tại Điều 14 về cơ chế sử dụng nguồn thuế phòng vệ thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp. Theo đại biểu, thực tiễn thời gian qua cho thấy, các vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đang tăng nhanh và diễn biến ngày càng phức tạp. Tính đến giữa năm 2025, Việt Nam đã phải đối mặt với khoảng 290 vụ việc từ 25 thị trường khác nhau. Điều này dẫn đến nhiều hệ luỵ như giá xuất khẩu tăng, giảm sức cạnh tranh, bào mòn lợi nhuận và nguồn lực của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thì không đủ chi phí để theo đuổi vụ việc, trong khi họ lại chính là đối tượng chịu tác động nặng nề nhất và nếu chúng ta không có cơ chế hỗ trợ phù hợp thì nguy cơ mất thị trường là hoàn toàn có thể xảy ra cho dù sản phẩm của ta có chất lượng và năng lực cạnh tranh tốt. Vì vậy, việc xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với phòng vệ thương mại là cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, cần thiết kế chính sách phù hợp đảm bảo vừa hỗ trợ được doanh nghiệp nhưng không trái với quy định mà WTO cấm; Bởi nếu vi phạm quy định của WTO sẽ dẫn đến phản tác dụng và gây rủi ro pháp lý cho chính ngành hàng mà chúng ta muốn bảo vệ.

Đại biểu Trần Thị Vân phát biểu tại hội trường
Từ thực tế trên, đại biểu Trần Thị Vân đề nghị việc trích lại một phần tiền thuế nhập khẩu để phục vụ công tác phòng vệ thương mại là bước tiến phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu cấp bách của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Nhưng nếu quy định “một phần” mà không có nguyên tắc định lượng thì rất khó dự báo, khó triển khai và doanh nghiệp cũng không thể lập kế hoạch lâu dài. Bên cạnh đó, đề nghị dự thảo Nghị quyết quy định rõ nguyên tắc về sử dụng ngân sách nhà nước, đảm bảo phù hợp cam kết quốc tế và giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể.
Đại biểu đề xuất, nên mở rộng đối tượng hỗ trợ, không chỉ dừng lại ở các hiệp hội. Bởi trong nhiều vụ việc bên gặp khó đầu tiên không phải hiệp hội mà chính là các doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu. Đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa một khi không đủ chi phí thuê luật sư thì gần như không thể tự bảo vệ được mình. Do đó, đại biểu đề nghị mở rộng đối tượng hỗ trợ, bao gồm cả doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa tại khoản 1, Điều 14. Theo đại biểu, không đợi đến khi xảy ra vụ kiện mới hỗ trợ, mà phải dành nguồn lực cho phòng ngừa từ sớm, từ xa. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực, chuẩn hóa hệ thống kế toán, dữ liệu, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và kỹ thuật của thị trường nhập khẩu. Nếu được thiết kế phù hợp, linh hoạt và bám sát thông lệ quốc tế sẽ tạo thành “lá chắn mềm” giúp cho doanh nghiệp Việt Nam tự tin hơn trong quá trình hội nhập.
Cạnh đó, đại biểu Trần Thị Vân khẳng định việc cho phép địa phương mở văn phòng đại diện tại nước ngoài quy định tại Điều 15 là một trong những giải pháp đột phá, thay đổi tư duy theo hướng công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị cả trung ương và địa phương, tạo cơ chế cho địa phương mở rộng quan hệ quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài tạo kênh xúc tiến đầu tư liên tục. Đại biểu dẫn chứng với 41 quốc gia và vùng lãnh thổ đang đầu tư tại Bắc Ninh, trong đó có nhiều công ty điện tử lớn đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… Bắc Ninh chủ trương thu hút thêm FDI công nghệ cao, điện tử, linh kiện bán dẫn thì việc Nghị quyêt cho phép đặt Văn phòng đại diện của tỉnh tại nước ngoài sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Bắc Ninh kết nối, kêu gọi hỗ trợ và chăm sóc các doanh nghiệp khác trên thế giới ở lĩnh vực này tiếp tục đầu tư tại Bắc Ninh. Tuy nhiên, chính sách cho phép mở văn phòng đại diện của địa phương ở nước ngoài cần căn cứ vào điều kiện, nhu cầu và nguồn lực cụ thể của từng địa phương phải được triển khai trên tinh thần “hiệu quả”, “phù hợp hoàn cảnh” và có “kiểm soát”, tránh tạo thêm gánh nặng ngân sách hoặc trùng lặp chức năng với cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài. Chính sách cần bảo đảm không tạo thêm đầu mối, không kìm hãm khả năng mở rộng quan hệ, thu hút hợp tác và đầu tư của các địa phương, nhất là những địa phương có nhu cầu, năng lực và định hướng đối ngoại rõ ràng.
Thực tiễn hiện nay cho thấy các nước cũng chỉ đặt văn phòng của một số địa phương tại Việt Nam chứ không phải tất cả các bang, các địa phương của một quốc gia đều lập văn phòng tại Việt Nam. Công việc chính về thúc đẩy quan hệ hai quốc gia vẫn là công việc của Chính phủ, thông qua hệ thống các cơ quan đại diện ngoại giao. Điều này đặt ra yêu cầu làm rõ cơ chế phối hợp và vai trò kiểm soát của Chính phủ, bảo đảm hoạt động của văn phòng đại diện địa phương không chồng chéo chức năng, không đi lệch định hướng đối ngoại chung.
Do vậy, đại biểu Trần Thị Vân đề nghị Nghị quyết nên quy định theo hướng cho phép triển khai thử nghiệm, giao Chính phủ quy định cụ thể về tiêu chí, điều kiện, phạm vi hoạt động, cơ chế quản lý và báo cáo của địa phương khi mở văn phòng đại diện tại nước ngoài; đồng thời xác định rõ vai trò hỗ trợ, hướng dẫn của cơ quan đại diện trong việc bảo đảm quản lý thống nhất về đối ngoại./.
Dương Nhung

















