Một số điểm mới của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025
Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Luật số 121/2025/QH15), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026, thay thế cho Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.
Luật có 5 chương, 45 điều; so với quy định của luật cũ, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 có nhiều điểm mới trong trong phân cấp, phân quyền, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH và HĐND đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển thịnh vượng, hùng cường của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2025 có nhiều điểm mới như:

Ảnh minh họa
(1) Xác định rõ giám sát là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước
Khoản 1, Điều 1 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định: Giám sát của Quốc hội, HĐND là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc chủ thể giám sát của Quốc hội, HĐND theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
(2) Bổ sung nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên tắc giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; nguyên tắc bảo đảm gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương (Điều 3. Nguyên tắc hoạt động giám sát)
Bên cạnh các nguyên tắc quán triệt trong xây dựng và thi hành pháp luật về hoạt động giám sát của QH và HĐND đã được quy định trong Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2025 bổ sung thêm 03 nguyên tắc mới: Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam; Giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; Bảo đảm gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương. Việc bổ sung các nguyên tắc này là cần thiết và đáp ứng yêu cầu trong điều kiện hiện nay.
(3) Bổ sung các quy định về phân công, phân cấp, phân quyền, phối hợp trong hoạt động giám sát.
Để thể chế hóa kịp thời, đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng về tăng cường phân công, phân cấp, phân quyền, phối hợp trong hoạt động giám sát và phù hợp với tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp, Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2025 đã bổ sung nhiều quy định liên quan đến phân công, phân cấp, phân quyền, phối hợp trong hoạt động giám sát nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của QH và HĐND trong thời gian tới.
Khoản 4, Điều 28. Hoạt động giám sát của HĐND; khoản 4, Điều 31. Hoạt động giám sát của Thường trực HĐND quy định về phân cấp, phân quyền trong hoạt động giám sát: Bên cạnh trực tiếp thực hiện hoạt động giám sát chuyên đề thì HĐND có thể giao Thường trực HĐND, Ban của HĐND thực hiện giám sát chuyên đề và báo cáo HĐND xem xét, quyết định; Thường trực HĐND có thể giao Ban của HĐND thực hiện giám sát chuyên đề và báo cáo Thường trực HĐND xem xét, quyết định. Việc phân công, phân cấp, phân quyền này tạo điều kiện để HĐND, Thường trực HĐND có thể kịp thời xem xét, quyết định, giải quyết được nhiều vấn đề bức xúc, nổi lên của địa phương.
Hoặc về thẩm quyền giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri: Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2015 mới chỉ quy định thẩm quyền này cho UBTVQH và Thường trực HĐND; Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2025 đã quy định phân cấp, phân quyền cho cả các chủ thể khác như: điểm c, khoản 1, Điều 34 Hoạt động giám sát của ban của HĐND “c) Giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri theo phân công của Thường trực HĐND cùng cấp”.

Quang cảnh 01 buổi thẩm tra dự thảo Nghị quyết trình kỳ họp HĐND của Ban Kinh tế - Ngân sách
Về phối hợp trong hoạt động giám sát: Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2025 có nhiều quy định liên quan đến phối hợp trong hoạt động giám sát và được quy định tại Điều 9; theo đó, Luật quy định trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể giám sát với nhau và giữa các chủ thể giám sát với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan thanh tra, kiểm toán, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác trong xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung giám sát và triển khai thực hiện hoạt động giám sát để tránh trùng lặp, nâng cao hiệu quả giám sát.
Trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát, nếu chủ thể giám sát phát hiện bất cập, hạn chế trong chính sách, pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật mà thuộc thẩm quyền, lĩnh vực phụ trách của chủ thể giám sát khác thì có trách nhiệm kịp thời thông tin đến chủ thể giám sát đó để phối hợp giám sát. Cơ quan thanh tra, kiểm toán và cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung giám sát khi có yêu cầu của chủ thể giám sát, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, trường hợp thông tin, tài liệu phức tạp, cần thời gian tổng hợp thie fthowif hạn cung cấp có thể dài hơn nhưng không quá 15 ngày. Cơ quan thanh tra, kiểm toán và cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác có trách nhiệm cử thành viên tham gia hoạt động giám sát khi có đề nghị, yêu cầu của chủ thể giám sát…
(4) Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến bảo đảm thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát.
Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2015 về các quy định liên quan đến việc bảo đảm thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát, Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2025 đã được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, trong đó nội dung được thể hiện tập trung tại Điều 40. Bảo đảm việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát, cụ thể như sau:
Quy định rõ ràng giá trị pháp lý, trách nhiệm thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát: Nghị quyết giám sát của QH, UBTVQH, HĐND có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện; kết luận, kiến nghị giám sát của UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của QH, Đoàn đại biểu QH, đại biểu QH, Thường trực HĐND, Ban của HĐND và đại biểu HĐND phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm chỉnh.
Trường hợp không đồng ý với kết luận, kiến nghị giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có thể đề nghị chủ thể giám sát xem xét lại kết luận, kiến nghị giám sát liên quan đến hoạt động của mình và chủ thể giám sát có trách nhiệm xem xét, trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, trường hợp bất khả kháng hoặc có nhiều nội dung phức tạp thì thời hạn có thể dài hơn nhưng không quá 30 ngày; trường hợp không tán thành với kết quả trả lời của chủ thể giám sát thì cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tự mình hoặc báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để đề nghị QH, UBTVQH, HĐND xem xét kết luận, kiến nghị giám sát đó.
UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của QH, Đoàn đại biểu QH, đại biểu QH, Thường trực HĐND, Ban của HĐND và đại biểu HĐND có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc, xem xét việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát; trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát thì yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đó báo cáo giải trình. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giải trình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, , trường hợp bất khả kháng hoặc có nhiều nội dung phức tạp thì thời hạn có thể dài hơn nhưng không quá 30 ngày. Quá thời hạn này mà không nhận được trả lời hoặc không tán thành với nội dung giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát thì quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đoàn giám sát của Ban Kinh tế - Ngân sách khảo sát thực tế công trình xử lý nước thải tập trung tại KCN
(5) Sửa đổi, bổ sung các quy định về thẩm quyền, trách nhiệm HĐND, cơ quan của HĐND, đại biểu HĐND và thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong hoạt động giám sát.
Nhằm khắc phục những bất cập của Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2025 đã có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan, như:
Đối với Thường trực HĐND, Luật đã bổ sung thẩm quyền của Thường trực HĐND xem xét báo cáo công tác của UBND, TAND, Viện KSND, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương và các báo cáo khác theo quy đinh của phát luật, nghị quyết của HĐND trong thời gian giữa 2 kỳ họp HĐND khi được HĐND giao (Điểm a, khoản 2, Điều 31. Hoạt động giám sát của Thường trực HĐND)
Đối với Tổ đại biểu HĐND, Luật đã sửa đổi thẩm quyền của Tổ đại biểu HĐND chỉ thực hiện giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương khi được HĐND, Thường trực HĐND giao (Điều 36. Thẩm quyền và hoạt động giám sát của đại bieur HĐND)
(6) Bổ sung quy định về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động giám sát.
Việc ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động giám sát là cần thiết, tất yếu để phục vụ có hiệu quả cho hoạt động giám sát; trong khi đó, Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2015 chưa có quy định về vấn đề này. Vì vậy, thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2025 đã bổ sung quy định về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động giám sát (tại Điều 43), với nội dung:
(1) Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của QH, Đoàn đại biểu QH, đại biểu QH, HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm ứng dụng công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động giám sát; bảo đảm sự liên thông, chia sẻ dữ liệu giám sát giữa các chủ thể giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
(2) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan thanh tra, kiểm toán và cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác có trách nhiệm tăng cường ứng dụng công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số để chia sẻ dữ liệu dùng chung, tạo điều kiện cho các chủ thể giám sát tiếp cận thông tin, tài liệu về hoạt động thanh tra, kiểm toán và các thông tin khác có liên quan để phục vụ hoạt động giám sát.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày 24 tháng 12 năm 2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 2599/NQ-UBDNGS15 ngày 27 tháng 2 năm 2026 ban hành các mẫu văn bản phục vụ giám sát./.
Vũ Tấn Cường
Phó trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh

















