HĐND với hoạt động đầu tư công; Kinh nghiệm trong việc quyết định và giám sát đầu tư công
HĐND với hoạt động đầu tư công; Kinh nghiệm trong việc quyết định và giám sát đầu tư công
BAN KINH TẾ NGÂN SÁCH HĐND TỈNH BẮC GIANG

Đồng chí Nguyễn Thế Toản - Uỷ viên Thường trực HĐND tỉnh, Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách phát biểu tại Kỳ họp thứ 18, HĐND tỉnh
Với chủ đề hội nghị trao đổi kinh nghiệm hoạt động giữa Thường trực HĐND tỉnh với Thường trực HĐND các huyện, thị xã, thành phố lần thứ 7 là “Kinh nghiệm trong quyết định và giám sát việc thực hiện pháp luật về đầu tư công”. Ban Kinh tế ngân sách trao đổi một số nội dung liên quan đến hoạt động của HĐND như sau:
1.Về quyết định chủ trương đầu tư công
1.1. Thực trạng việc quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án
* Đối với cấp tỉnh: HĐND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án nhóm B (trừ các trương trình, dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia do Quốc hội quyết định theo quy định tại điều 19 của Luật ĐTC). UBND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư các chương trình dự án nhóm C (Nghị quyết số 38/2019/NQ- HĐND ngày 11/12/2019 HĐND tỉnh Bắc Giang: Giao UBND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư công nhóm C trên địa bàn tỉnh Bắc Giang).
* Đối với cấp huyện: Theo nắm bắt sơ bộ thấy hầu hết các đơn vị cơ bản thực hiện giống như tỉnh: HĐND quyết định chủ trương đầu tư các chương trình dự án nhóm B. Giao UBND quyết định chủ trương đầu tư công nhóm C. Một vài nơi có thời điểm huyện ấn định với mức đầu tư nào đó trở lên thì HĐND quyết định chủ trương đầu tư, còn dưới mức đó thì giao UBND quyết định chủ trương đầu tư. Riêng huyện Yên Dũng thì HĐND quyết định chủ trương đầu tư tất cả các dự án đầu tư công cấp huyện (không giao UBND quyết định chủ trương đầu tư). Song mới đây, ngày 8/10/2024 HĐND huyện Yên Dũng ban hành NQ số 28 có nội dung: HĐND huyện giao UBND huyện quyết định dừng thực hiện 23 dự án (gồm cả dự án nhóm B và C trước đó HĐND đã quyết định chủ trương đầu tư); quyết định chủ trương đầu tư 05 dự án đầu tư công mới...?!
* Việc HĐND giao cho UBND quyết định chủ trương đầu tư công dự án nhóm C mà không có danh mục dự án cụ thể (Khoản 7 điều 17 Luật ĐTC có ghi: Trong trường hợp cần thiết, HĐND quyết định việc giao cho UB cùng cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án quy định tại khoản này phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương); và việc HĐND huyện Yên Dũng giao cho UBND huyện quyết định dừng thực hiện 23 dự án đã được HĐND quyết định chủ trương đầu tư hiện đang có ý kiến cho là chưa chuẩn? Vấn đề này cần được trao đổi thêm (tại hội nghị) để thống nhất nhận thức.
1.2. Quy trình thực hiện quyết định chủ trương đầu tư công:
* Hầu hết các đơn vị trong tỉnh đã cơ bản thực hiện theo điều 27 Luật Đầu tư công về trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn đầu tư công do địa phương quản lý. Qua theo dõi, thấy có một số việc chưa chuẩn, đó là:
- Theo quy định tại điểm a, khoản 1 điều 27 Luật Đầu tư công thì: Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm “Giao cơ quan chuyên môn hoặc Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư”. Thực tế ở cả cấp huyện và tỉnh vừa qua lại giao cho Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình (khi xây dựng xong) lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư và những chủ thể đó sẽ được giao làm chủ đầu tư xây dựng công trình đó luôn.
- Theo quy định tại điểm b, khoản 1 điều 27 Luật Đầu tư công thì: Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm “Thành lập Hội đồng thẩm định hoặc giao đơn vị có chức năng để thẩm định báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn”. Theo nắm bắt thấy rất ít nơi thành lập “Hội đồng thẩm định” mà là giao cơ quan chức năng thẩm định báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư (nhưng thực tế chỉ là một- hai cán bộ chuyên theo dõi việc đó làm); và việc thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn thường chưa được chú ý (cho lập dự án đầu tư để đi câu, đi xin vốn, hoặc trông chờ khi thu được tiền đất thì trả sau).
* Quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tại khoản 2, Điều 27 Luật Đầu tư công thì có các nội dung sau: Mục tiêu, phạm vi, quy mô, tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, địa điểm, thời gian, tiến độ, dự kiến kế hoạch bố trí vốn, cơ chế và giải pháp, chính sách thực hiện. Trong thực tế thấy có nội dung thì quá chi tiết (về nội dung, quy mô đầu tư), có nội dung thì chưa thể hiện rõ (cơ cấu nguồn vốn, tiến độ, dự kiến kế hoạch bố trí vốn, cơ chế và giải pháp, chính sách thực hiện).
- Khi quyết định đầu tư công trình khẩn cấp (phòng chống hoặc khắc phục thiên tai, dịch bệnh) sử dụng kinh phí dự phòng ngân sách hoặc hỗ trợ mục tiêu từ cấp trên nhưng một số địa phương lại trình HĐND quyết định chủ trương đầu tư (Khoản 1 điều 42 Luật Đầu tư công: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm về việc thực hiện dự án đầu tư công khẩn cấp thuộc cấp mình quản lý. Khoản 3 điều 42: Chủ tịch Ủy ban nhân dân báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp việc thực hiện dự án đầu tư công khẩn cấp tại kỳ họp gần nhất); nhưng có nơi làm xong lại không báo cáo.
1.3. Kinh nghiệm khi thực hiện thẩm tra, quyết định chủ trương đầu tư
- Để có thời gian chuẩn bị, nghiên cứu, thu thập thông tin nhằm thực hiện tốt công tác thẩm tra dự thảo nghị quyết quyết định chủ trương đầu tư dự án, Thường trực HĐND tỉnh cần sớm tổ chức họp để thống nhất nội dung, chương trình kỳ họp (nên tổ chức chậm nhất 45 ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp). Tại thông báo dự kiến chương trình, nội dung kỳ họp, Thường trực HĐND cần yêu cầu cụ thể thời hạn UBND và các ngành phải gửi tài liệu đến các Ban của HĐND để thẩm tra (chậm nhất 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp). Kiên quyết đưa ra khỏi nội dung, chương trình kỳ họp, không tổ chức thẩm tra các dự thảo nghị quyết không đảm bảo chất lượng hoặc vi phạm quy định của pháp luật về thời hạn gửi tài liệu.
- Trước khi thẩm tra, cần bố trí thời gian để khảo sát thực địa các dự án hoặc có thể tổ chức làm việc với các đơn vị có liên quan trước; cần đọc kỹ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư xem đã đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 31 của Luật Đầu tư công hay chưa, xem vấn đề gì cần làm rõ khi thẩm tra? xem cơ quan lập báo cáo có đúng với quy định tại khoản 1 Điều 27, Luật Đầu tư công? Sau đó mới tổ chức hội nghị thẩm tra; cách làm này sẽ giúp cho việc thẩm tra dự thảo nghị quyết được kỹ lưỡng, có đủ thời gian để trao đổi, làm rõ. Để thẩm tra được kỹ cần xác định các tiêu chí cần xem xét để đối chiếu, hỏi cho rõ: Về sự phù hợp với QH chung, với QH- kế hoạch sử dụng đất thì thể hiện ở trang, dòng, thứ tự nào? cần xem báo cáo thẩm định về vốn và cơ cấu vốn thế nào? báo cáo thẩm định về thiết kế..?Xem các ý kiến thẩm định nêu thế nào, có tiếp thu chỉnh sửa hay không? Nội dung nào đặt ra để người có thẩm quyền cân nhắc khi quyết định..?
- Khi thẩm tra, cần xem xét cụ thể các điều kiện quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án được quy định tại Điều 18 Luật Đầu tư công (như sự phù hợp với kế hoạch, quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt; nguồn vốn, khả năng cân đối vốn của dự án; bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội,...); xem xét liệu có các hành vi bị cấm trong đầu tư công quy định tại điều 16 Luật Đầu tư công (Quyết định chủ trương đầu tư không xác định được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quyết định đầu tư chương trình, dự án khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc không đúng với các nội dung về mục tiêu, phạm vi, quy mô, vượt tổng vốn đầu tư của chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Điều chỉnh tổng tổng mức đầu tư của dự án trái với quy định của pháp luật về đầu tư công; Yêu cầu tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư khi chương trình, dự án chưa được quyết định chủ trương đầu tư, chưa được phê duyệt, gây nợ đọng xây dựng cơ bản).
- Việc ban hành nghị quyết quyết định chủ trương đầu tư dự án thì không nêu chi tiết cụ thể như với quyết định phê duyệt dự án để thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức thực hiện; nội dung cần đầy đủ theo quy định tại khoản 2, Điều 27 Luật Đầu tư công.
2. Về quyết định kế hoạch đầu tư công
Tỉnh Bắc Giang có 46 dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2016-2020 sang tiếp tục thực hiện ở giai đoạn 2021-2026; Kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh có 71 dự án mới. Hiện nay đã và đang thực hiện 40 dự án, còn lại 31 dự án đến nay chưa đầu tư.
2.1. Một số cái sai của kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch đầu tư công
Theo quy định tại Điều 55 và 56 của Luật Đầu tư công thì dự kiến Kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm đều phải trình HĐND cho ý kiến và có mốc thời hạn cụ thể. Vì vậy HĐND cần phải ban hành nghị quyết thông qua dự kiến kế hoạch đó; nhưng vấn đề cần cho ý kiến chủ yếu được thực hiện khi thẩm tra; còn khi trình ra kỳ họp Hội đồng thì chỉ còn là xem xét biểu quyết “thông qua” mà rất ít cho ý kiến gì thêm nữa. Thời gian qua, ở tỉnh ta có tình trạng không trình HĐND thông qua dự kiến KH ĐTC năm sau hoặc trình sau ngày 25/7 (mốc thời hạn quy định tại khoản 5 điều 56).
Đối với KH ĐTC trình kỳ họp thường lệ cuối năm thì cơ bản kịp thời hạn theo quy định nhưng có một số vấn đề chưa chuẩn là: (1) Chưa ưu tiên bố trí vốn cho dự án chuyển tiếp phải hoàn thành trong năm kế hoạch mà lại dành vốn cho dự án khởi công mới (dự án đến năm đó phải hoàn thành nhưng không được bố trí đủ vốn trung hạn và vốn kế hoạch năm cuối). (2) Bố trí vốn cho nội dung không nằm trong kế hoạch trung hạn (đã bổ sung danh mục và KH vốn năm nhưng trước đó lại quên không bổ sung nội dung đó vào KH ĐTC trung hạn). (3) Kế hoạch ĐTC năm chưa chi tiết mức vốn bố trí cho từng dự án theo quy định tại Điều 63 Luật ĐTC. (4) HĐND là cấp thẩm quyền giải quyết nhưng đã ban hành nghị quyết có nội dung giao/ủy quyền cho Thường trực HĐND xem xét giải quyết một số nội dung là chưa đúng quy định. (5) Một số dự án, trong một năm thực hiện điều chỉnh Kế hoạch đầu tư công trung hạn và kế hoạch năm nhiều lần. (6) Cho phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân vốn mà không cung cấp đủ các tài liệu làm cơ sở cho phép kéo dài KH vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Nghị định số 40/2020/NĐ- CP hoặc có cung cấp tài liệu nhưng không đủ cơ sở cho kéo dài...
2.2. Một số khó khăn, vướng mắc của quá trình quyết định KH ĐTC
Theo quy định của Luật Đầu tư công thì chỉ HĐND mới là cấp có thẩm quyền “cho ý kiến” với dự kiến KH ĐTC và có mốc thời gian phải hoàn thành; HĐND mới là cấp “thông qua” hoặc “quyết định KH ĐTC”. Quy định như trên là vướng khó thực hiện (để Thường trực HĐND cho ý kiến đối với một số nội dung thì phù hợp hơn). Kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm thường xuyên phải thay đổi, điều chỉnh bổ sung, tăng, giảm để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Việc phân bổ mức bố trí vốn cho từng dự án ngay từ cuối năm trước thường không sát với khả năng thực hiện nên trong năm cần điều chỉnh (nếu Thường trực HĐND giải quyết thì sẽ thuận tiện hơn). Theo quy định thì phải phân bổ hết số vốn kế hoạch cho các dự án cụ thể mà không được để lại một gói chung (gọi là dự phòng để phân bổ sau) dẫn đến trong năm sẽ phải điều chỉnh kế hoạch vốn nhiều lần...
2.3. Kinh nghiệm thẩm tra, quyết định KH ĐTC trung hạn, hằng năm
- Phải bảo đảm các quy định về nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư công: phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bố trí đủ vốn để thanh toán hết số nợ đọng xây dựng cơ bản, số vốn ứng trước; bố trí đủ vốn cho dự án hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn; bố trí vốn dự án chuyển tiếp dự kiến hoàn thành trong kỳ kế hoạch; bố trí vốn cho dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ được phê duyệt; bố trí vốn chuẩn bị đầu tư; sau đó mới bố trí vốn cho dự án khởi công mới.
- Thực hiện đầy đủ trình tự quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, lưu ý việc UBND phải trình HĐND cho ý kiến đối với dự kiến Kế hoạch đầu tư công trước khi trình HĐND quyết định Kế hoạch ĐTC. Cụ thể:
+ Đối với Kế hoạch đầu tư công trung hạn: UBND trình HĐND cùng cấp “cho ý kiến” lần 1 theo quy định tại khoản 5, Điều 55 Luật Đầu tư công; “cho ý kiến” lần 2 theo khoản 10, Điều 55, Luật Đầu tư công (trước ngày 15/6 năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công giai đoạn trước); lần 3 theo quy định định Điều 62 Luật Đầu tư công (trước ngày 5/12 năm thứ năm của KH ĐTC trung hạn giai đoạn trước) trước khi HĐND quyết định KH ĐTC trung hạn của cấp mình. Nội dung HĐND “cho ý kiến” quan trọng là xem xét tính tổng thể, toàn diện, cân đối, hài hòa giữa các ngành, lĩnh vực cần đầu tư công; cho ý kiến để hạn chế sự sót thiếu, vênh lệch, bên nặng, bên nhẹ hoặc dự tính nguồn lực không sát dẫn đến nợ công lớn, đầu tư công lãng phí, kém hiệu quả....
+ Đối với Kế hoạch đầu tư công hằng năm: Trước ngày 25/7 hằng năm, UBND báo cáo HĐND cùng cấp thông qua dự kiến KH ĐTC năm sau; trước ngày 5/12 hằng năm, UBND trình HĐND cùng cấp kế hoạch đầu tư công năm sau.
- Kế hoạch vốn đầu tư công cần phân bổ chi tiết cho từng dự án theo quy định tại khoản 2, Điều 63 Luật Đầu tư công.
- Khi xem xét kế hoạch đầu tư công, cần lưu ý một số nội dung: Sự phù hợp của kế hoạch vốn bố trí cho các sở, ngành và các huyện, thành phố để thực hiện các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; các dự án được bố trí kế hoạch vốn đầu tư công hằng năm phải nằm trong kế hoạch đầu tư công trung hạn; việc sắp xếp thứ tự ưu tiên các dự án đầu tư.
Các điều kiện, thủ tục của dự án được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm; thời gian bố trí vốn cho các dự án theo Điều 52 Luật Đầu tư công (nhóm C không quá 3 năm, nhóm B không quá 4 năm, nhóm A không quá 6 năm).
- Khi điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm cần lưu ý, thời gian điều chỉnh kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước hàng năm giữa các dự án trong nội bộ của Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương trước ngày 15/11 năm kế hoạch (theo Khoản 3, Điều 46, Nghị định số 40/2020/NĐ-CP). Việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công phải tuân thủ nguyên tắc “kế hoạch đầu tư công trung hạn điều chỉnh trước, sau đó mới điều chỉnh kế hoạch đầu tư công hằng năm”.
Trong nghị quyết điều chỉnh KH ĐTC cần thể hiện theo các mục cho thật mạch lạc (dự án nào là bổ sung, dự án nào có điều chỉnh hoặc đưa ra khỏi KH ĐTC); điều chỉnh nội dung gì (tăng giảm vốn, quy mô, thời gian, địa điểm...) đối với những dự án điều chỉnh thì chi tiết có từng phụ lục kèm theo.
3. Về giám sát đầu tư công
3.1. Tình hình thực hiện giám sát đầu tư công
* Ở cấp tỉnh: Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Thường trực HĐND đã thực hiện một cuộc giám sát chuyên đề đối với 5 dự án đầu tư (trong đó có 1 dự án đầu tư công); Ban Kinh tế ngân sách đã thực hiện giám sát chuyên đề 2 cuộc (một cuộc đối với 3 dự án đầu tư công do HĐND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư; một cuộc về chuyển mục đích sử dụng đất đối với 3 dự án trong đó có 1 dự án đầu tư công). Nhìn chung, ở cấp tỉnh thực hiện giám sát đúng với vai trò của cơ quan dân cử là “giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật” trong thực hiện dự án (bám theo đúng chủ đề, phạm vi và mục đích của cuộc giám sát).
* Đối với các huyện, thị, thành trong tỉnh: Qua nắm bắt sơ bộ chúng tôi thấy số lượng các cuộc giám sát chuyên đề từ đầu nhiệm kỳ 2021- 2026 đến nay còn ít (Thường trực HĐND huyện Yên Dũng giám sát 01 chuyên đề “việc thực hiện quy định của pháp luật trong thực hiện đầu tư công giai đoạn 2020- 2022”. Thường trực HĐND huyện Tân Yên đã giám sát 01 chuyên đề “giám sát việc triển khai thực hiện các nghị quyết của HĐND huyện về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021- 2025 đối với UBND huyện từ năm 2021- 2023”. Thường trực HĐND huyện Yên thế đã giám sát “việc chấp hành pháp luật về xây dựng cơ bản nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2020- 2023”. HĐND thành phố BG năm 2022 đã giám sát chuyên đề “Tình hình thực hiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021- 2026 trên địa bàn”. Thường trực HĐND và Ban HĐND huyện Lạng Giang đã giám sát chuyên đề 05 cuộc. Cụ thể: 02 cuộc giám sát chuyên đề về tiến độ thực hiện một số tuyến đường giao thông trọng điểm; 01 cuộc giám sát về tiến độ GPMB các dự án; 01 cuộc giám sát về tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, 01 cuộc giám sát về việc xây dựng, ban hành các nghị quyết liên quan đến lĩnh vực đầu tư công của HĐND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện).
Qua xem xét báo cáo kết quả giám sát chuyên đề của một số đơn vị chúng tôi thấy, nội dung giám sát chưa phải là giám sát việc chấp hành pháp luật về đầu tư công, chấp hành pháp luật về xây dựng, đất đai, môi trường, phòng cháy... mà lẫn/lai với giám sát của cấp ủy đảng (công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong triển khai thực hiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn, hàng năm; việc triển khai thực hiện các nghị quyết của HĐND huyện về đầu tư công; tình hình, tiến độ thực hiện dự án đầu tư công; tiến độ GPMB các dự án, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; tình hình thực hiện Kế hoạch đầu tư công...). Trong báo cáo kết quả giám sát ít chỉ ra các vi phạm về thẩm quyền, vi phạm về trình tự thủ tục, chỉ ra sai sót trong hồ sơ, các thiếu sót khuyết điểm trong thực hiện chức trách được giao hoặc vi phạm hợp đồng... mà mới nêu việc “triển khai thực hiện”, “tiến độ thực hiện” dự án đầu tư công còn chậm hoặc nêu những bất cập của công trình cần được điều chỉnh, về thiếu vốn hoặc vướng mắc trong giải phóng mặt bằng... Báo cáo kết quả giám sát phần kiến nghị nêu khá chung chung (chủ yếu nêu kiến nghị nhằm giải quyết những vướng mắc, khó khăn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, hoặc kiến nghị để khắc phục những bất cập của công trình, kiến nghị bổ sung thêm hạng mục) nên không chuẩn là kiến nghị của cơ quan của HĐND khi giám sát việc chấp hành pháp luật về đầu tư công. Qua nắm bắt sơ bộ thấy, một số nơi sau giám sát mới chỉ ban hành báo cáo kết quả giám sát, chưa ban hành kết luận hoặc nghị quyết về cuộc giám sát đó...
Như vậy có thể nói, việc giám sát về đầu tư công ở nhiều nơi làm chưa chuẩn (đây là lĩnh vực chuyên sâu, đòi hỏi người giám sát phải am hiểu xây dựng cơ bản, kế hoạch và tài chính, đất đai môi trường...). Vì vậy thông qua hội nghị trao đổi kinh nghiệm lần này để thống nhất nhận thức, thời giam tới làm tốt hơn.
3.2. Một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện giám sát đầu tư công
Khó khăn lớn nhất là thiếu người có chuyên môn và am hiểu sâu về xây dựng cơ bản, về đầu tư công để thực hiện giám sát. Ngoài ra còn có yếu tố: Đầu tư công đã được tập thể lãnh đạo cao nhất của địa phương đơn vị quyết định, nay HĐND giám sát để thúc đẩy việc thực hiện dự án thì được, chứ đi sâu xem xét lỗi phạm thì ngại và không dễ chỉ ra...
3.3. Kinh nghiệm trong giám sát thực hiện dự án đầu tư công
Việc thực hiện dự án đầu tư công liên quan đến nhiều luật, số lượng hồ sơ tài liệu nhiều. Vì vậy, khi giám sát dự án đầu tư công cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Phải thành lập Tổ giúp việc và trưng tập/mời người có chuyên môn về quản lý nhà nước, am hiểu sâu về xây dựng, tài chính, đất đai cùng giám sát; bố trí đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ, tài liệu của dự án đầu tư công.
- Trước khi tiến hành giám sát cần tổ chức họp đoàn giám sát, tổ giúp việc trước để thông tin, thảo luận những vấn đề trọng tâm khi đi giám sát cần thu thập thông tin; tiến hành phân vai, giao việc khi thực hiện nghiên cứu tài liệu giám sát.
- Đối với giám sát đầu tư công thì báo cáo phục vụ giám sát chỉ đáp ứng được một phần (đối tượng chịu sự giám sát không tự chỉ ra lỗi phạm của mình đâu). Cái chính lại là nghiên cứu hồ sơ của dự án và xem xét đối chiếu với quy định của pháp luật. Vì vậy, sau khi nghiên cứu hồ sơ tài liệu thì phải họp lại để thống nhất dự kiến lỗi phạm và tổng hợp thành “Bản tổng hợp kết quả nghiên cứu hồ sơ”. Sau đó tổ chức đối thoại, trao đổi với người phụ trách dự án để bàn thảo, tranh luận. Sau khi đã cơ bản thống nhất các khuyết điểm, hạn chế và lỗi phạm thì xây dựng dự thảo báo cáo kết quả giám sát để tổ chức hội nghị giám sát với chủ đầu tư, cơ quan quản lý chuyên ngành có liên quan...
- Một số sai sót thường gặp trong thực hiện dự án đầu tư công
+ Chủ trương đầu tư chưa đảm bảo theo quy định, người ra quyết định đầu tư không chỉ rõ vốn và khả năng cân đối vốn cho dự án đầu tư. Do đó, cần giám sát từ khâu xây dựng quy hoạch và khâu bố trí kế hoạch đầu tư, xem xét từng dự án có phù hợp với quy hoạch đã được duyệt hay không (quy hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành,…).
+ Quyết định đầu tư không đúng với mục tiêu đã được HĐND thông qua như: quy mô đầu tư, cơ cấu vốn đầu tư và bố trí từng nguồn vốn cho công trình.
+ Quy mô dự án đầu tư không phù hợp, thiết kế tổng dự toán đầu tư không chính xác; cần xem xét việc tổ chức đấu thầu lựa chọn tư vấn, đánh giá năng lực của các tổ chức làm dịch vụ tư vấn.
+ Cần xem có sai sót trong đấu thầu, ký hợp đồng thi công không; các hạng mục đầu tư có đúng với thiết kế? xem tổng dự toán có tính toán sai khối lượng...
+ Hồ sơ trình quyết toán công trình thường có nhiều sai sót. Tài liệu kế toán công trình, biên bản nghiệm thu, khối lượng đầu tư từng hạn mục không rõ ràng. Chất lượng công trình không tốt, không đáp ứng mục tiêu đầu tư ban đầu, dự án kém hiệu quả, thậm chí không hoạt động.
Trên đây là một số ý kiến của Ban Kinh tế ngân sách HĐND tỉnh đóng góp với hội nghị trao đổi kinh nghiệm hoạt động HĐND tỉnh, huyện lần thứ 7./.
BAN KINH TẾ NGÂN SÁCH

















